PHƯƠNG PHÁP (VIẾT BÀI / TRÌNH BÀY BÀI) NGHIÊN CỨU

 

TT. TS. Thích Tâm Đức

 

I. Đại cương về nghiên cứu:

1. Nghiên cứu (re-search) là gì ?

– Những thành tựu khoa học kỷ thuật có được là nhờ nghiên cứu (NC). NC nói chung chỉ cho sự tìm cầu tri thức. “Nghiên cứu là một sự tìm cầu hay khảo sát một cách cẩn thận, có hệ thống và kiên nhẫn trong một số lĩnh vực tri thức, được thực hiện để khám phá hay thiết lập những sự kiện hay nguyên lý.”1 Do vậy, NC là một sự đóng góp vào kho tàng kiến thức hiện hữu và làm cho nó ngày càng phong phú.

– NC là một cuộc tìm tòi hoặc khảo sát tập trung, đặc biệt là một cuộc điều tra hay thí nghiệm nhằm mục đích khám phá và giải thích những sự kiện, tu chỉnh những triết thuyết hay định luật đã được chấp nhận, dựa theo những sự kiện mới tìm được mà thích dụng những thuyết hay định luật mới được tu chỉnh đó2.

2. Các loại nghiên cứu: Nhìn chung có các loại nghiên cứu căn bản như sau:

a) Mô tả – phân tích:

NC mô tả bao gồm những phương pháp khảo sát của tất cả các loại kể cả so sánh và tương quan. Đặc điểm chính của phương pháp (pp) này là người NC không có kiểm soát những biến đổi mà chỉ có tường trình lại những gì đã hoặc đang xảy ra. Trong NC phân tích, người NC phải sử dụng những sự kiện hay thông tin đã có sẵn và phân tích chúng để có được một sự đánh giá tài liệu một cách có phê phán.

b) Ứng dụng – cơ bản:

NC ứng dụng nhằm mục đích tìm ra một giải pháp cho một vấn đề đang đối mặt với xã hội hay tổ chức kỹ nghệ thương mại tức thời; trong khi đó NC cơ bản chủ yếu quan hệ đến sự khái quát hóa và đến sự hình thành lý thuyết.

c) Số lượng – chất lượng:

NC số lượng được thực hiện trong sự đo lường số lượng hay tổng giá trị; nó có thể ứng dụng cho những hiện tượng mà có thể được biểu hiện về số lượng. NC chất lượng, liên quan đến những hiện tượng chất lượng.

d) Lý thuyết – thực tiễn:

NC lý thuyết liên quan đến những ý tưởng hay lý thuyết trừu tượng. Nó thường được dùng bởi những nhà tư tưởng hay những triết gia để phát triển những khái niệm mới hay giải thích lại những khái niệm đang hiện hữu. Trái lại, NC thực tiễn chỉ dựa trên kinh nghiệm của sự quan sát mà không có liên quan đến hệ thống hay lý thuyết.

e) Một số loại NC khác:

Tất cả những loại NC khác là những biến đổi của một hay nhiều loại được đề cập trên, dựa vào mục tiêu NC, hay thời gian để hoàn tất đề tài NC, hoặc hoàn cảnh trong đó NC được thực hiện, hay trên nền tảng của vài sự kiện tương tự khác, như là sự NC dài hạn hay ngắn hạn, NC phòng thí nghiệm, NC thám hiểm, hay NC lịch sử….

Ngoài ra, có sáu loại NC sau đây tuỳ theo số người tham dự, mục đích, hay nơi thực hiện công tác NC3:

Yếu tố phân loại & Loại nghiên cứu:

 

Yếu tố phân loại Loại nghiên cứu
Số người tham dự công tác NC a)      Cá nhân

b)      Tập thể

Mục đích công tác NC a)      Thuấn túy

b)      Thực nghiệm

Nơi thực hiện công tác NC a)      Trong phòng thí nghiệm

b)      Ngoài trời

 

3. Phương pháp (Method) là gì ?

Phương pháp là: a/ Cách thức là một điều gì có tính hợp lý, thứ tự và xác định….b/ hợp lý và thứ tự trong hành động, tư duy hay diễn cảm; hệ thống trong làm việc hay sử dụng ý tưởng. c/ một sự sắp xếp hợp lý và thứ tự4.

4. Các loại phương pháp NC:

Sau khi chọn đề tài, nhà NC phải chọn một hoặc nhiều PPNC để đi đến giải pháp cho vấn đề đó hay để chứng minh cho giả thuyết của mình. Có 4 loại: tham khảo, thực nghiệm, khảo sát, và nghiên cứu trường hợp.

– PP tham khảo: PP này còn được gọi là PP lịch sử vì đã được các sử gia dùng nhiều nhất. PP này gồm 3 giai đoạn: a) thâu thập tài liệu, b) kiểm soát kỹ lưỡng các tài liệu về cả hình thức (nguyên văn hay giả nạo), lẫn nội dung (có xác thực và đáng tin cậy không ?) và c) tổ chức trình bày và giải thích các tài liệu đã thâu thập được. PP này dùng trong mọi ngành NC nhất là trong sử học và chính trị học.

– PP thực nghiệm: đây là PP dùng để thí nghiệm một giả thuyết bằng cách đặt ra những điều kiện giả tạo nhằm mục đích tách rời yếu tố quan trọng đã gây ra hiện tượng đang được NC để cho việc quan sát được dễ dàng. PP này có thể thực hiện ở trong hoặc ở ngoài các phòng thí nghiệm. Số dụng cụ để thí nghiệm cần nhiều hay ít tùy theo trường hợp NC. PP này dùng nhiều nhất trong các ngành khoa học.

– PP khảo sát: Đây là PP dùng để NC một nhóm đông người. PP này thường được dùng trong các sưu tầm về giáo dục hay xã hội học. Để NC nhóm đông đảo, kỹ thuật thống kê giúp người NC giải đoán các kết quả thâu lượm được.

– PP nghiên cứu các trường hợp: Đây là PP dùng để NC kỹ lưỡng đời sống và phẩm hạnh của một cá nhân, một gia đình, một đoàn thể hay một quốc gia (khác khảo sát). Các cuộc phỏng vấn và hồ sơ viết (thư từ, nhật ký, học bạn…..) là những tài liệu NC quý giá cho PP này.

5. Mục đích, ý nghĩa NC: những báo cáo NC có nhiều mục đích:

– Giải phóng học sinh trong chừng mực khỏi sự thống trị của một quyển sách và quan điểm của một người dạy.

– Cung cấp một bước khởi đầu trong sự nghiên cứu độc lập.

– Khắc sâu PP khoa học và tư duy quy nạp.

– Thúc đẩy sự phát triển những thói quen  luận lý về tư duy và tổ chức.

(Đối với mụ đích ở đây, chúng ta có thể định nghĩa NC chỉ là một sự tìm kiếm có hệ thống thông tin thích hợp về một đề tài đặc biệt)

Ý nghĩa: “Mọi tiến bộ được phát sinh do nghiên cứu. Sự nghi ngờ luôn luôn tốt hơn là sự quá tin hay bằng lòng thỏa mãn, vì nghi ngờ dẫn đến nghiên cứu, và nghiên cứu dẫn đến phát minh”. Việc tăng cường nghiên cứu sẽ giúp cho xã hội tiến bộ.

6. So sách phương pháp nghiên cứu và phương pháp luận:

Những PP hay kỹ thuật NC là chỉ cho những PP mà người NC sử dụng trong việc thực hiện những hoạt động NC. PP luận NC là cách giải quyết vấn đề NC một cách có hệ thống và logic.

7. Trình bày công tác NC:

a) Công tác NC được trình bày trong một luận án hay một bài luận văn.

b) Luận án là một tập trường trình kết quả của một cuộc NC nguyên thuỷ về một vấn đề quan trọng và sự phân tích cùng sự đánh giá kết quả NC đó. Bài luận văn là một luận án nhỏ.

c) Dù là viết luận văn hay luận án, nhà NC phải luôn luôn theo đúng những quy định, sẽ được trình bày sau.

II. CÁC GIAI ĐOẠN NGHIÊN CỨU:

Gồm một loại những hành động và giai đoạn cần thiết để thực hiện việc NC được hiệu quả.

1.      Chọn đề tài:

Bất luận khi nào chúng ta cần NC và viết một cái gì về một vấn đề hay đề tài theo lựa chọn riêng của mình hay sau khi bàn bạc và được sự đồng ý của vị hướng dẫn hay giám sát thì vấn đề lựa chọn và quyết định đề tài hiện ra trước mắt chúng ta. Để định một đề tài hay chủ đề thì cần lưu ý những điểm sau:

– Đề tài có mới mẻ không ?

– Mình có thích đề tài đó không ?

– Mục đích viết: phải rõ ràng, động cơ viết và viết cho ai đọc.

– Số lượng giới hạn chữ định dùng: đề mục 500 chữ, bài NC 3000 chữ, bài báo 6000 chữ v.v….tùy theo đó mà phải  hạn chế đề tài.

– Luận điểm hay điểm chính mà ta muốn NC: Đó là một trong những cách tốt nhất để thiết lập giới hạn một đề tài.

– Đề tài sau khi NC, có ích gì cho xã hội, quốc gia hay nhân loại không ?

– Mình có đủ khả năng NC về đề tài đó không ?

– Tài liệu tham khảo liên quan đề tài có đầy đủ không ?

– Và thời gian NC đề tài mất bao lâu ?

2. Phương pháp NC:

Sau khi đã chọn đề tài, nhà NC phải chọn một hoặc nhiều PP NC để đi đến giải pháp cho vấn đề đó hay để chứng minh cho giả thuyết của mình. Có 4 loại như đã trình bày.

3. Đặt giả thuyết:

Giả thuyết là “một sự ức đoán hay luận lý sáng suốt tạm thời chấp nhận để cắt nghĩa những sự kiện hay điều kiện nhận xét được và để hướng dẫn công việc NC”5. Nhờ có giả thuyết, nhà NC có thể thu hẹp mục tiêu NC của mình và hướng theo đó thâu thập sự kiện và bằng cứ liên quan đến giải pháp cho vấn đề đã đặt ra. Nếu không có giả thuyết, nhà NC sẽ mất rất nhiều thời gian để đi tìm những tài liệu không cần thiết hoặc không thích đáng.

Một giả thuyết hay phải hội đủ ba đặc điểm sau đây:

–          Phù hợp những sự kiện nhận xét được.

–          Không trái với bất cứ luật thiên nhiên nào

–          Vắn tắt và giản dị

Vai trò của giả thuyết là để hướng dẫn người NC phân định lĩnh vực NC và giữ cho vị ấy đi đúng đường. Giả thuyết làm sắc bén sự suy nghĩ của người NC và tập trung sự chú ý vào những khía cạnh quan trọng hơn của vấn đề.

4. Viết dàn bài tạm:

Một khi đề tài được quyết định thì nên viết tóm lược ngắn gọn về nó. Bắt buộc người làm công tác NC viết một luận án Tiến sĩ là phải viết một bản tóm tắt về đề tài và nộp cho hội đồng NC phê chuẩn.

Ghi những điểm chính và phụ cần phải NC, giúp người NC có ý niệm phải tìm những tài liệu nào để tham khảo. Dàn bài này có thể được sửa đổi tùy theo sự tiến triển của cuộc NC. Căn bản có hai cách, luận lý và thứ tự thời gian. Dàn bài luận lý dựa trên căn bản liên tưởng và phối hợp giữa điểm này và điểm khác bằng sự phân tích (triết, sinh học….). Còn dàn bài theo thời gian thì dựa vào sự liên tiếp về mặt thời gian hay sự việc xảy ra (lịch sử).

Ví dụ 1: Đề tài “Triết Lý Kinh Pháp Hoa – Phân tích Khái niệm và học thuyết”

Chương 1: Giới thiệu

Chương 2: Tóm tắt Kinh Pháp Hoa

Chương 3: Nhất thừa

Chương 4: Phương tiện

Chương 5: Bồ tát, Phật và Đà la ni

Chương 6: Kết luận

Ví dụ 2: Đề tài: “Thiền Phật Giáo Việt Nam thời Nhà Trần”

Chương 1: Giới thiệu Thiền thời Nhà Trần

Chương 2: PG du nhập VN vào hai thế kỷ đầu công nguyên

Chương 3: Khởi đầu Thiền Phật Giáo Việt Nam (A.D.tk 3-5)

Chương 4: Ba dòng thiền Trung Hoa du nhập vào Việt Nam

Chương 5: Phật giáo Việt Nam vào Thế kỷ 10

Chương 6: PG vào thời nhà Lý (A.D.1010 – 1225)

Chương 7: Thiền phái Trúc Lâm thời nhà Trần (A.D.1226 – 1430)

Chương 8: So sánh thiền Trúc Lâm, thiền Ấn Độ, và thiền Trung Hoa

Chương 9: Sự thất bại của Khổng giáo

Chương 10: Sự thất bại của quân Mông Cổ tại Việt Nam

Chương 11: Kết luận. Nguyên nhân sâu xa của chiến thắng quân Mông Cổ: Thiền PGVN – Trúc Lâm, một di sản sáng tạo.

5. Thiết lập chương trình làm việc:

Tự ấn định cho mình những thời hạn (có thể bằng biểu đồ) đề tìm và đọc tài liệu, soạn và duyệt bài NC…..giúp theo dõi và hoàn tất viết bài NC đúng hạn.

 

Công tác Thời gian hoàn tất
Năm 2007 2008
Tháng 7 8 9 10 11 12 1 2 3 4 5 6
Tìm tài liệu

Soạn thư tịch

Đọc và ghi chép

Phân tích tài liệu ghi chép

Viết bản thảo đầu tiên

Viết bản thảo cuối cùng

Đánh máy và duyệt

                         
                             

 

6. Sưu tầm tài liệu nghiên cứu:

Vào lúc này, nhà NC thực hiện việc sưu tầm những tài liệu liên quan đến đề tài. Một thư viện tốt sẽ là một sự giúp đỡ lớn cho nhà NC ở giai đoạn này. Mục đích của sưu tầm là góp nhặt và cân nhắc tất cả những chứng cứ xác thật hay những tài liệu thích đáng để tìm ra giải pháp cho vấn đề. Tài liệu sưu tầm như là: ấn phẩm của chính phủ, báo và tạp chí, thư từ riêng và nhật ký, tiểu sử và hồi ký, những tài liệu NC về lịch sử, thơ, kịch, truyện, di tích khảo cổ và địa chất, bản nhạc….

– Tài liệu nguyên thủy: 1) Những cuộc thí nghiệm, 2) những cuộc phỏng vấn, 3) những câu hỏi gởi cho nhiều người để điều tra về một vấn đề gì, 4) những luận án tiến sĩ, 5) thư từ, nhật ký và hồi ký, 6) công báo và những phúc trình của các cơ quan nhà nước, cơ quan NC, các viện đại học, các xí nghiệp và 7) báo chí.

– Tài liệu thứ hai: Viết dựa theo những tài liệu nguyên thuỷ.

– Tài liệu thứ ba: viết dựa theo những tài liệu thứ hai. Nhà NC nên hạn chế sử dụng loại tài liệu này, ngoại trừ những sách giáo khoa đáng tin cậy.

– Phỏng vấn: là một thuật góp nhặt tài liệu rất hữu hiệu. Tuy nhiên đây là một kỹ thuật khó thực hiện, phải: biết đặt câu hỏi, danh sách nhân vật càng nhiều càng tốt, đối phó thích hợp, tạo sự tín nhiệm và hợp tác, đi một mình.

Nếu sưu tầm tài liệu quá ít thì người NC có thể chọn đề tài khác.

7. Soạn thư tịch6, thư mục, thư lục:

a) Chọn sách: Xem: 1) tài liệu có thích hợp với đề tài đã chọn không, 2) Nhà xuất bản sách có đứng đắn không, 3) tác giả có nổi tiếng và có viết nhiều sách không.

b) Soạn thư tịch: ghi những chi tiết của tài liệu đó (tên tác giả tựa sách, chi tiết về xuất bản, số trang) vào tấm thẻ nhỏ gọi là thẻ thư mục.

 

Sổ thư tịch                                                                      Số thứ tự

342.72                                                                                                                                                                         (8)

Ham

Đề Mục

(Hiến Pháp)

Tên tác giả – tự sách (có gạch dưới)

(Hamilton, Alexader: er al. Luận về Hiến Pháp Hoa Kỳ)

Chi tiết về xuất bản, số trang

(sài gòn: Việt Nam Khảo Dịch

Xã, 1966, trang 150

Thư viện trường CĐQP chương 3 và 5

Chi Chú

 

8. Đọc sách và ghi chép:

a) Đọc sách: Đọc những tài liệu tham khảo đã chọn và ghi lại những đoạn cần thiết cho việc soạn thảo bài luận văn sau này vào một thẻ ghi chép.

b) Thẻ ghi chép: nên dùng thẻ bìa cứng (13 x 20 cm) để ghi chép lại tài liệu đọc được.

 

Đề mục                                                                           Số thứ tự

(Hiến pháp)                                                                             (8)

Phần ghi chép

(Hạ nghị viện Một hạ ghị sĩ của Hiệp Chủng Quốc phải

Trên hai mươi lăm tuổi, phải là, khi được tuyển cử,

Một công dân Hiệp Chủng Quốc từ bảy năm….)

Trang 133

 

Ghi số thứ tự giống như số thứ tự trong thẻ thư mục, không cần ghi lại tên tác giả, tựa sách… phần ghi chép: Có 3 cách: 1) Tóm tắt ý của tác giả bằng những câu văn của nhà NC, 2) chép lại nguyên văn những đoạn trong tài liệu tham khảo, và 3) phê bình ý hay quan điểm của tác giả. Số trang của đoạn văn trích được ghi ở dưới góc trái thẻ ghi chép. Ngoài ra, có thể làm thêm một loại thẻ ghi chép riêng (màu khác) để ghi những ý tưởng hay quan điểm của chính mình nghĩ ra trong khi đọc sách hoặc ý kiến và quan điểm của những học giả mà nhà NC đã có dịp nói chuyện hay phỏng vấn.

9. Phân tích tài liệu ghi chép:

Sắp xếp lại những tài liệu ghi chép cho phù hợp với dàn bài tạm và xét xem những tài liệu đó có thật sự hữu ích và hỗ trợ cho bài NC của mình không hay là trái lại (thử giả thuyết và có thể đi đến sự tổng hợp để thiết lập một học thuyết hoặc gặp những vấn đề mới dẫn đến những cuộc NC thêm nữa) và dàn bài có thể được điều chỉnh lại.

10. Viết bản thảo đầu tiên:

Viết hết bài NC trong một thời gian ngắn, không nên chú ý đến những chi tiết nhỏ nhặt như sửa chữa câu văn cho hay, ghi cước chú đầy đủ, để tư tưởng của mình khỏi bị đứt đoạn hay bị bỏ quên. Sau đó, đọc lại xem có thiếu sót chỗ nào không, sửa chữa nếu cần và ghi thêm cước chú.

11. Viết bản thảo cuối cùng:

a) Đây là giai đoạn cuối cùng và cũng là giai đoạn quan trọng. Người NC duyệt lại bản thảo đầu tiên và sửa chữa những câu văn lại cho gọn, rõ ràng, và dễ đọc. Bản thảo này phải được trình bày kỹ lưỡng về cả hình thức lẫn nội dung. “một bài NC hay cần phải chính xác, khách quan, không thiên vị, thực tế, và dễ đọc”7

b) Về cách hành văn, nhà NC phải luôn luôn dùng ngôi thứ ba để viếc bài NC. Những đại danh từ và chủ hữu tính từ như “tôi”, “chúng tôi”, “của tôi”, “của chúng tôi” phải được loại bỏ. Nếu gặp những đoạn phải đề cập đến mình thì nên dùng những chữ như: “tác giả bài này” hay “người viết bài này” hoặc “người viết bài này”8.

c) Bài NC phải được đánh máy vi tính theo đúng khuôn khổ như được đề cập trong phần tiếp theo.

III. CÁC TRÌNH BÀY / VIẾT BÀI NGHIÊN CỨU

1. Đại cương:

Bài NC được viết trên khổ giấy trắng 21,59cm x 27,94cm (A4 = 21cm x 29,7cm). Các dòng chữ đánh cách đôi. Chừa lề trên (top) 2,54cm; dưới (bottom) 2,54cm; trái (left) 2.54cm; phải (right) 1.27cm và phần để đóng bìa (Gutter) 1cm. Một bài NC đúng cách phải gồm có 3 phần:

a) Phần mở đầu: gồm có: trang nhan đề (title page), lời nói đầu (preface/foreword), bảng mục lục (table of contents), bảng liệt kê các bản (list of tables, nếu có), và bảng liệt kê minh họa (list of illustrations, nếu có).

b) Phần bài viết (Thân bài NC): nhan đề (title) của bài viết được ghi lại ở đỉnh (những) trang bên trái; nhan đề của các chương được ghi lại ở đỉnh (những) trang bên phải (trừ trang đầu của chương và trang đầu của chương luôn là trang mới). Phần bài viết gồm có chương nhập đề (introduction), các chương chánh, và chương kết luận (bao gồm đề nghị). Các chương nên phân chia cho hợp lý.

– Chương nhập đề: gồm có những nội dung như sau:

i. Mục đích và phạm vi đề tài

ii. Ý nghĩa về lý luận và thực tiễn của đề tài

iii. Định nghĩa những chữ đặc biệt, khái niệm cơ bản, then chốt được dùng trong bài viết.

iv. (Các) phương pháp được sử dụng

v. Tổng luận về những công trình NC đã có, liên quan đến đề tài.

– Các chương chính: số chương nhiều hay ít tùy theo vấn đề NC và tùy theo ý muốn của nhà NC; số thứ tự chương được ghi bằng số La mã hoa I, II, III,….; số thứ tự chương được đánh máy ở giữa, cách đầu trang giấy khoảng 2,5cm (hoặc 6cm). Mỗi chương có một đề mục riêng và được đánh máy chữ hoa, cách số thứ tự chương 3 gạt máy chữ (# 2 gõ Enter = 1cm), nếu đề mục của chương dài hơn một hàng thì hàng thứ hai phải cách hàng đầu 2 gạt máy chữ. Giòng thứ nhất của phần trình bày được đánh máy cách đề mục chương 3 gạt máy chữ.

 

 

CHƯƠNG I

TÓM TẮC KINH PHÁP HOA

Kinh Pháp Hoa gồm 28 phẩm và có thể tóm tắt như sau……

 

 

Có 2 cách đánh số chương, hoặc dùng chữ hoặc dùng số.

a) Dùng chữ: mỗi chương được chia thành mục, tiết, đoạn….

b) Dùng số Ả Rập để phân chia, hàng đơn vị (1, 2, 3,…) là chương, hàng chục (1.1, 1.2; 2.1, 2.2;…..) thế cho mục,….Từ chương đến mục, mục đến tiết, tiết đến đoạn….phải thụt lề 2 dập hoặc 1cm. Ví dụ:

Dùng chữ                                                 Dùng số

Chương I.                                                  1.

Mục I.                                                               1.1.

Tiết I.                                                               1.1.1

Đoạn I.                                                             1.1.1.1

Chương kết luận: Tóm tắt lại tất cả những điểm đã trình bày trong các chương chánh và trình bày những ý kiến, nhận xét, phê bình, kết luận và thành tựu đã đạt được, đồng thời nêu lên những triển vọng về mặt lý luận và thực tiễn, những hạn chế, sau hết là những đề nghị (nếu có)

c) Phần phụ đính (annex): Thư tịch / thư mục / thư lục (bibliography), phụ lục (appendix), ngữ điển (glossary), bản chỉ dẫn (index):

Gồm có bản kê khai những sách đã tham khảo để viết bài NC và phục lục (nếu có). Phục lục là (những) tài liệu không thuộc bài viết nhưng có ích cho độc giả, chẳng hạn, những bản thống kê, toán học, những bài viết của những tài liệu và những bản sao, ghi âm đầy đủ của những bộ luật quan trọng.

2. Trang nhan đề: (Trang Bìa)

a) Đây là trang đầu tiên của bài NC gồm có những chi tiết sau: Đề tài NC, tên họ nhà NC, tên Trường hoặc đại học, tháng và năm nộp bài NC.

b) Đề tài NC phải hết sức ngắn nhưng đầy đủ ý nghĩa, viết bằng chữ in hoa, cách đầu tờ giấy 12 nhấn enter. Tên họ nhà NC được đánh vào giữa trang. Tên trường hoặc đại học được đánh máy chữ hoa gần cuối trang. Sau hết là tháng và năm nộp bài NC. Dưới khoảng này phải còn một khoảng trống chừng 2,5cm.

c) Trang đề tài được đánh số la mã thường “i”

3. Bản mục lục:

a) Ngay sau trang đề tài là bản mục lục. Bản này liệt kê và đánh số trang của: a) các bản liệt kê các bản, hình ảnh; b) các chương, (mục, tiết, đoạn) trong thân bài NC và; c) các thư tịch phụ bản.

b) Hai chữ MỤC LỤC (hay DÀN BÀI CHI TIẾT nếu là bài tiểu luận thường) được đánh chữ hoa, cách đầu tờ giấy 2.5cm.

– Đề mục của chương được đánh máy bằng chữ in hoa. Nếu đề mục của chương dài hơn một hàng thì hàng thứ hai phải đánh máy thụt vào 2 dập so với chữ đầu hàng thứ nhất.

– Đề mục của các mục, tiết, đoạn được đánh máy chữ thường ngoại trừ mẫu tự đứng đầu câu và những danh từ riêng. Nếu đề mục của đoạn dài hơn một hàng thì hàng thứ hai phải thụt vào 2 dập so với hàng thứ nhất.

– Bảng liệt kê các bản và hình ảnh, thư tịch và các phụ lục được đánh máy chữ hoa sát lề trái thẳng hàng với chữ đầu của chương.

c) Về việc đánh số trang trong bản mục lục: Trong phần 1/III thì phần tứ tự (1, 2,…). Số cuối của tất cả số trang phải nằm thẳng trên cùng một hàng dọc. Ví dụ:

 

 

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU                                                                                ii

BẢNG LIỆT KÊ CÁC BẢN                                                           iv

BẢNG LIỆT KÊ HÌNH ẢNH                                                          v

CHƯƠNG I                           GIỚI THIỆU                                    1

Mục I.   Bối cảnh triết lý Phật giáo của Kinh Pháp Hoa        1

Tiết I. Các kinh Đại Phương Quảng                               2

Tiết II. Vài quan điểm về Đại Thừa Phật giáo               15

Mục II. Ngôn ngữ và thể loại kinh Pháp Hoa                      25

CHƯƠNG II.  TÓM TẮT KINH PHÁP HOA                                56

CHƯƠNG III.  NHẤT THỪA                                                       89

CHƯƠNG IV. PHƯƠNG TIỆN                                                 102

CHƯƠNG V. BỒ TÁT, PHẬT, ĐÀ LA NI                                  176

CHƯƠNG VI. KẾT LUẬN                                                         230

THƯ TỊCH                                                                                235

PHỤ LỤC                                                                                 240

NGỮ ĐIỂN                                                                               248

BẢNG CHỈ DẪN                                                                       255

 

4. Bảng liệt kê các bản (list of tables)

– Tiếp theo bảng mục lục là bản liệt kê các bản mà người NC đã góp nhặt để cắt nghĩa một vài điểm liên quan đến vấn đề NC. Trang này ghi tựa và số thứ tự của các bản cùng số trang liên hệ.

– Số thứ tự cuác bản được ghi bằng số la mã hoa. Tựa các bản được đánh máy hàng chiếc, mỗi tựa cách tựa kế tiếp hai gạt máy chữ (double spaces). Trong tựa các bản, mẫu tự đứng đầu mỗi chữ được đánh máy chữ hoa, ngoại trừ các liên tự, giới tự và mạo tự xác định (nhưng nếu chúng đứng đầu câu thì phải đánh máy chữ hoa).

– Trang liêt kê các bản được đánh số la mã thường kế tiếp số trang của bảng mục lục.

 

 

BẢNG LIỆT KÊ CÁC BẢN

BẢN                                                                                  TRANG

I. Bảng Liệt Kê Các Kết Quả Nhận Được bởi NC                     19

II. Số Lượng Hợp Đồng được ký kết bởi nhiều loại cơ quan    27

III. Những hợp đồng cung cấp những tiện ích cho bịnh

Viện và phòng thí nghiệm………….                                     40

 

iv

 

5. Bảng liệt kê hình ảnh (list of photographs):

– Đây là trang liệt kê những bản đồ (chart), tranh phác hoạ, hình ảnh (pictograph), biểu đồ (graph).

– Trình bày tương tợ như trang liệt kê các bản nhưng khác biệt duy nhất là số thứ tự của các hình ảnh được ghi bằng số Ả rập thay vì số La mã.

– Trang liệt kê hình ảnh được đánh số La mã thường kế tiếp số trang của bảng liệt kê các bản.

 

 

BẢNG LIỆT KÊ HÌNH ẢNH

HÌNH                                                                                    TRANG

1. Lễ Khai Mạc Quốc Hội…………………………………………19

2. Trụ Sở Quốc Hội………………………………………………..27

3. Quang Cảnh Một Buổi họp tại Quốc Hội……………………..40

 

v

 

6. Các đoạn trích:

– Nhà NC có thể trích những đoạn văn trong các tài liệu NC để ghi vào bài NC của mình. Tuy nhiên, không nên trích quá nhiều để tránh độc giả có cảm tường là bài NC này chẳng qua chỉ là một tập góp nhặt. Mỗi khi trích một đoạn văn phải ghi cước chú.

– Có hai cách trích các đoạn văn: trực tiếp và gián tiếp. Trong cách trích trực tiếp, những đoạn văn trích được ghi lại nguyên văn; còn cách gián tiếp, nhà NC chỉ lấy ý của những đoạn trích và diễn tả lại ý đó bằng những câu văn của chính mình viết ra.

– Những đoạn trích trực tiếp dài dưới bốn hàng được đánh máy hàng đôi và đặt trong dấu ngoặc kép. Những đoạn trích trực tiếp dài từ bốn hàng trở lên được đánh máy hàng đơn trong một đoạn riêng biệt, thụt vào lề trái 4 dập máy chữ.

– Trong đoạn trích trực tiếp, nếu nhà NC thấy có sai lầm thì có thể lưu ý độc giả bằng hai cách: a) thêm chữ [sic] ngay sau chữ hay câu sai lầm, b) ghi câu hiệu chỉnh ngay sau câu hay chữ sai lầm và để trong dấu [ ].

Các dánh máy thụt vào:

 

Loại Số dập máy chữ thụt vào
a. Hàng đầu của một đoạn 5 (#2,1cm)
b. Đoạn văn trích dài từ bốn hàng trở lên 4 (#1,8cm)
c. Các liệt kê 5
D. Hàng đầu của một cước chú 5

 

7. Phần phụ đính (Annex):

Phần phụ đính là phần đính kèm phụ thêm, nằm sau chương kết luận của phần chính, gồm: Thư tịch, phụ lục, ngữ điển, bảng chỉ dẫn.

a) Thư tịch, thư mục, thự lục, tài liệu tham khảo:

– Định nghĩa: thư tịch là bản liệt kê tất cả những tài liệu tham khảo dùng để viết các tác phẩm khoa học, luận án, luận văn, v.v….Thư tịch gồm có sách, báo chí, bách khoa từ điển, ấn phẩm của nhà nước, các bài giảng thuyết đã ghi ở phần cước chú và tất cả những tài liệu hữu ích khác đã được dùng để viết bài.

– Thành phần thư tịch là mỗi tài liệu tham khảo ghi trong thư tịch.

– Cách trình bày thư tịch:

Thư tịch được trình bày một phần riêng biệt ở cuối bài viết (trước các phụ bản). Thành phần thư tịch được xếp theo thứ tự mẫu tự của tên tác giả. Trường hợp không có tên tác giả thì ghi ngay tựa tài liệu tham khảo, vẫn theo thứ tự mẫu tự (không cần ghi những mạo từ đứng đầu tựa tài liệu tham khảo. Nếu số tài liệu tham khảo khá nhiều (trên 30) thì nên chia ra làm nhiều loại như: sách, báo chí, bách khoa tự điển…

Thư tịch được đánh máy hàng chiếc. Những thành phần thư tịch phải được tách riêng ra, cách nhau 2 gạt máy chữ. Dòng đầu của mỗi thành phần thư tịch được đánh máy sát lề phía trái. Dòng thứ hai và các dòng kế tiếp được đánh máy thụt vào, cách lề trái 5 dập máy chữ.

b) Các chi tiết trong thành phần thư tịch:

– Tên tác giả:

Đối với người Âu Mỹ, thường được sắp xếp như sau:

Họ                    Tên                  Chữ lót (viết tắt)

Adeva              Jose                 A.

Đối với người Việt, thường được sắp xếp:

Họ                    Chữ lót             Tên

Nguyễn            Đình                 Chiểu

Lưu ý: Đối với người Âu Mỹ, trong thư tịch và trong cước chú, cách sắp xếp về tác giả có chỗ khác nhau như sau:

Thư mục:   Họ                    Tên                  Chữ lót (viết tắt)

Adeva              Jose                 A.

Cước chú:  Tên                  Chữ Lót           Họ

Jose                 A.                     Adeva

Nếu là biệt hiệu hay bút hiệu thì vẫn để nguyên: Nguyễn Bính, Nam Cao…

Nếu trong thư mục có nhiều tác phẩ cùng một tác giả, thì từ tác phẩm thứ hai, không cần lặp lại tên tác giả mà thay vào đó bằng chữ Idem (đối với tác giả nước ngoài) hoặc chữ ctg (đối với tác giả Việt Nam), hoặc một dấu gạch ngang.

Ví dụ:

Harvey, Paul, Oxford companion to English literature.3rd ed, N.Y.Oxford univ.pr,1946.

Idem,          Oxford companion to classical literature. Rev, N.Y.Oxford univ.pr,1973.

– Tên tài liệu:

Mẫu tự đầu của tài liệu phải viết hoa

Tên của tài liệu phải được gạch dưới (nếu không thì in chữ nghiêng).

– Tên nhà xuất bản, năm và nơi xuất bản:

Những chi tiết về xuất bản có thể được sắp xếp: nơi xuất bản, nhà xuất bản, rồi đến năm xuất bản hoặc Nhà xuất bản, nơi xuất bản, năm xuất bản.

Ví dụ:         Hà Nội: Sự thật, 1985

Hoặc:         nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1985

Sự thật xb, Hà Nội, 1985

Chú ý:

* Sau tên tác giả có thể là dấu phải, dấu chấm hay dấu hai chấm. Sau năm xuất bản là số trang (nếu có). Trong thư mục tiếng việt, sẽ viết tắt : 300 tr. (còn trong cước chú thì viết tr.300).

* Nếu tài liệu không có tên nhà xuất bản thì ghi hai chữ n.p. (no publisher) hay p.e. (pas d’ édition), còn tiếng Việt có thể ghi k.t. (không tên).

* Nếu tài liệu không có năm xuất bản thì ghi hai chữ n.d. (no date) hay p.d. (pas de date), còn tiếng Việt có thể ghi k.n (không năm).

– Phụ lục (appendix):

Phụ lục bao gồm những tài liệu chưa được xuất bản, những đoạn trích hay cước chú quá dài không thể ghi trong phần chính (thân bài) của công trình nghiên cứu. Phụ lục được tách rời khỏi phần thư mục, có ghi chữ hoa.

 

 

PHỤ LỤC

 

Phụ lục cần thiết nhưng cước chú và thư mục có tầm quan trọng hơn nên ngày nay người ta thường lập thư mục và cước chú, bỏ phần phụ lục.

– Ngữ điển / Từ vựng thuật ngữ (glossary):

Ngữ điển là phần liệt kê, giải thích rõ tất cả những từ ngữ hay thuật ngữ lạ, khó, ít dùng, thổ ngữ, tên các chất khoa học…..được dùng với nghĩa đặc biệt trong phần thân bài. Những từ ngữ này phải được sắp xếp theo mẫu tự A, B, C, D như một cuốn từ điển nhỏ.

– Bảng chỉ dẫn (index):

Bảng chỉ dẫn ghi lại tất cả các từ, tên người, tên đất, tên sách….cùng với số trang mà từ ấy đã xuất hiện và được sắp xếp theo mẫu tự A, B, C. Có sách, vừa có ngữ điển vừa có bảng chỉ dẫn. Có khi, hai phần được nhập chung làm một.

8. Cước chú (Footnotes/Endnotes):

a) Định nghĩa: Cước chú là phần ghi ở cuối trang (footnotes), cuối chương hay cuối phần chính của công trình NC (endnotes) nhằm giúp đọc giả biết rõ xuất xứ một đoạn văn, một ý kiến,một quan điểm, một tin tức…được dùng trong bài NC.

b) Cách ghi cước chú:

Vào thanh Menu của word, có dòng chữ File Edit View Insert Format Tools Table Window Help….ta nhấn chữ Insert / Reference / Footnotes (endnotes) / en ter. Mỗi cước chú phải được tách riêng và xuống hàng. Khổ chữ của cước chú phải nhỏ hơn chữ ở phần nội dung. Ví dụ: Chữ ở phần nội dung 13 thì chữ ở phần cước chú là 10.

c) Cách đánh số cước chú:

Số cước chú được ghi sau những dấu phẩy hoặc chấm.

Có 3 cách đánh số:

– Cách 1: Từ trang đầu đến trang cuối của thân bài NC.

– Cách 2: Từ trang đầu đến trang cuối của chương.

– Cách 3: Trong mỗi trang giấy. Cách này giúp đọc giả thấy ngay phần chú thích.

d) Các chi tiết trong cước chú:

Thay đổi tùy theo loại tài liệu, thường gồm có: Tên tác giả, tên tác phẩm, tên nhà xuất bản, nơi xuất bản, năm xuất bản, số trang.

* Sách:

– Một tác giả viết một cuốn sách

Thích Thiện Siêu, Đại Cương Luận Câu Xá, nxb Tôn Giáo, Hà Nội, 2006, tr.45

André Fontaine: Histoire de la guerre froide, Fayard, Paris, 1966, T.1, p.5.

– Giám đốc biên tập (giám biên)

Nguyễn Văn Sang, gb, Những khủng hoảng trên thế giới, nxb Thu Hồng, Sài Gòn, 1968, tr.71.

John Russel, ed, Memoirsm journals, and Corespondence of Thomas Moore, 8 vols, London, John Murray, 1853, p.56.

– Dịch giả:

Kinh Trung Bộ, HT. Thích Minh Châu dịch, nxb Tôn Giáo, Hà Nội, 1996, tr.125.

Frederick M. Watkins, Thời đại ý thức hệ, Nguyễn Ứng Long, dg. (Saigon: Việt Nam Khảo Dịch Xã, 1946), tr.82.

(Những chữ viết tắt: nxb. ‘nhà xuất bản’, T. hay Vol. ‘tập’, tr. ‘trang’, p. ‘page, trang’, gb. Hoặc ed. ‘giám biên’, dg. Hay trans. ‘dịch giả’)

– Nhiều tác giả một cuốn sách: ‘and’ hay ‘và’ (hai người, ghi tên của cả hai tác giả), ‘et al’ hay ‘tgk’ (ghi tên 2 người, ghi tên tác giả đầu tiên kèm theo hai chữ ‘etal’ hay ‘tgk’).

Ví dụ:

Alfred De Grazia and Frederick H. Stevenson, World Politics (New York: Barnes and Noble, 1965), tr.80-82.

Trương Bá Cần và tgk, Hoà Bình Cho Con Người (saigon, Trình Bày, 1976) tr. 54.

* Báo:

Ghi tên tác giả (nếu có), tên bài báo (để trong ngoặc kép), tên tờ báo (có gạch dưới hoặc in nghiêng), số bao nhiêu (đối với tập san), thời gian xuất bản, ở trang nào.

Ví dụ:

– Báo hàng ngày:

“Mặt trận văn học, nghệ thuật Việt Nam trước những nhiệm vụ mới của cách mạng” báo Nhân Dân, 27 tháng 4 năm 1984, tr.3.

– Báo hàng tuần:

Nguyễn Quân, “Cuộc đời thánh Gandhi” Đuốc Tuệ, 18 tháng 8 năm 1966, tr.43-44.

– Báo hàng tháng:

Trần Quốc Vượng, “Con người Việt Nam giữa luật và lệ, giữa tình và lý”, tạp chí Triết học, số 1, tháng 3 năm 1996, tr. 42.

* Bách khoa từ điển:

Tên tác giả (nếu có), tên bài viết (để trong ngoặc kép), tên bách khoa từ điển (gạch dưới hoặc in nghiêng), số tập, năm xuất bản (để trong ngoặc đơn), số trang.

Ví dụ:

Bernard Brodie, “Sea Power”, Encyclopedia Britannica, Vol.XX (1958), tr.249-250.

* Luận án:

Tên tác giả, tên luận án (gạch dưới hoặc in nghiệng), chữ luận án (thesis, Thèse), nơi trình bày luận án, năm trình luận án, số trang

Ví dụ:

Nguyễn Văn Trang, Tổ chức liên phòng Đông Nam Á, Luận án, Viện Đại Học Sài Gòn, 1986, tr. 72.

* Bài thuyết trình:

Tên người thuyết trình, tên đề tài (để trong ngoặc kép), chữ thuyết trình hoặc “Lecture”, “Conference” (gạch dưới hoặc in nghiêng), nơi thuyết trình, thời gian thuyết trình, số trang.

Ví dụ:

Eliodoro G. Robles, “Democracy”, Lecture (Manila: Far Eastern University, 18 August 1955), tr. 9.

* Bản báo cáo / phúc trình: tên tác giả (cá nhân hay tập thể), tên báo cáo (gạch dưới hoặc in nghiêng), nơi và thời gian, số trang.

Ví dụ:

Vũ Quốc Thúc và David E. Lilienthal, Phúc trình sơ khởi của nhóm nghiên cứu kế hoạch kinh tế hậu chiến (Saigon: 16 tháng 11, 1967), tr. 81.

* Thư từ: tên tác giả, chức vụ của tác giả, chữ “Letter”, “Lettre” hay “Thư từ”, nời và ngày viết thư (để trong dấu ngoặc đơn).

Ví dụ:

Nguyện Ngọc Hà, Luật sư, Thư từ (saigon: 27/9/1976)

* Phỏng vấn: tên họ, chức vụ người được phỏng vấn, chữ “phỏng vấn” (interview), nơi phỏng vấn.

Ví dụ:

Thích Huệ Chơn, Tổng Giám đốc công ty TNHH Văn Hoá Phẩm Phật Giáo Pháp Lưu, phỏng vấn (Tp.HCM: 20 /11/ 2050).

e) Cách dùng các cước chú đặc biệt:

Nhằm tránh sự lặp lại nhiều cước chú trong cùng một quyển sách gây sự nhàm chán, người ta dùng những cước chú đặc biệt như sau:

* Ibid: viết tắt của chữ ibidem có nghĩa là cùng một chỗ. Nếu những đoạn trích kế tiếp nhau trong cùng một trang của tác phẩm thì chỉ cần ghi Ibid (luôn luôn có gạch dưới nếu đánh máy). Nếu khác trang thì ghi thêm số trang

Ví dụ:

Nguyễn Văn Trang, Tổ chức liên phòng Đông Nam Á, Luận án, Viện Đại Học Sài Gòn, 1986, tr. 72.

Ibid.

Ibid., tr. 76.

* Op.Cit: viết tắt của chữ “opere citato” có nghĩa là “trong tác phẩm đã dẫn”. Op.cit được dùng như ibid với sự khác nhau như sau:

– Sau một cước chú với đầy đủ chi tiết, nếu bị ngắt quãng bởi những cước chú thuộc các tác phẩm khác thì dùng op.cit chứ không dùng ibid.

– Cước chú op.cit phải nằm ở khác trang với cước chú đầy đủ vừa dẫn.

– Tên tác giả phải nhắc lại trước chữ op.cit.

Ví dụ:

Nguyễn Văn Trang, Tổ chức liên phòng Đông Nam Á, Luận án, Viện Đại Học Sài Gòn, 1986, tr. 73.

Barbara W. Jackson, Nationalism and Ideology (New York: Norton, 1966) tr. 45.

Nguyễn Văn Trang, Op.cit, tr. 90.

* Loc.Cit: viết tắt của chữ “loco citato” có nghĩa là “chỗ đã dẫn”. Loc.cit được dùng như op.cit. Nhưng loc.cit phải nằm cùng trang với cước chú đã dẫn trước đó.

Ví dụ:

Nguyễn Văn Trang, Tổ chức liên phòng Đông Nam Á, Luận án, Viện Đại Học Sài Gòn, 1986, tr. 76.

Barbara W. Jackson, Nationalism and Ideology (New York: Norton, 1966) tr. 45.

Ibid, tr. 54

Nguyễn Văn Trang, Loc.Cit.

Barbara, Loc.cit, tr. 27.

* Đối với các tác phẩm tiếng Việt:

– Có thể thay những chữ Ibid, Op.cit, Loc.cit. bằng những chữ “Sdd” có nghĩa là “sách đã dẫn”.

– Những sách chữ Hán, thay “trang” bằng “tờ”, và do mỗi tờ có hai mặt nên dùng chữ a để chỉ mặt trước và chữ b để chỉ cho mặt sau.

Ví dụ:

Toàn thư, Ngoại kỷ, q.3, tờ 8a.

– Đối với Kinh Thánh, vì mỗi quyển chia thành chương và mỗichương đều có đánh số từng câu nên ghi như sau:

Ví dụ:

Khải huyền, Chương I, câu 5, tờ 5a, tr. 3.

…………………………………………..

–o0o–

 

Cước Chú:

1) Webser’s New World – College Dictionary, New Delhi, 2002, tr. 1219

2) A Meriam Webster, Webster’s Seventh – New Colligiate Dictionary, Massachusetts: G. and C. Meriam Company, 1963, tr. 730

3) Henry Lester Smith, Educational Research, Principles and paractices Trích bỉơ Jose Arlas Adeva, Elememets of Research and Thesis Writing, Manila: University Publishing Company, 1957, tr. 17

4) Webster’s New World – College Dictionary, Wiley Dreamtech India, New Delhi, 2002, tr. 906.

5) Carter V. Good, Methods of Research, New York: Appleton – Century – Crofts, 1951, tr. 90

6) Thư tịch gồm có sách, báo chí, bách khoa tự điển, ấn phẩm của chính phủ, các bài thuyết giảng, v.v…đã ghi ở phần cước chú và tất cả những tài liệu hữu ích khác đã được dùng để viết bài NC.

7) Ward C. Reeder, How to Write A Thesis. Chú thích bởi Jose Arias Adeva, Elements of Research and Thesis Writing, Manila: University Publishing Company, 1957, tr.92-93.

8) John C. Almack, Research and Thesis Writing, chú thích bởi Jose Arias Adeva, Ibid.,tr.98.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1) Elliott S.M. Gatner và Francesco Cordasco, Research and Report Writing, in lần 9, N. Y., Barnes & Noble, 1961.

2) A. L. Pancholi and Kundan Mali, The Fundamentals of Research Methodology, Jaipur: Publication Scheme, 1988.

3) C. R. Kothari, Research Methodology Methods & Techniques, New Delhi: Wiley Eastern Limited, 1992.

4) Eugene Khrlich and Daniel Murphy, Writing and Researching, New York: Bantan Books, 1966.

5) Kate L. Turbain, A Manual for Writer of Term Papers, Theses and Dissertation, Chicago: University of Chicago Press, 1965

6) Lê Tử Thành, Lôgích học & phương pháp luận nghiên cứu khoa học, in lần 5, HCM, nxb Trẻ, 1996.

7) Nguyễn Thái Lai, Phương pháp viết bài khảo luận và sưu tầm, in lần 1, SG, Trung tâm học liệu bộ giáo dục, 1972.

8) Webser’s New World – College Dictionary, New Delhi, 2002

9)  A Meriam Webset, Webster’s Seventh – New Colligiate Dictionary, Massachusetts: G. and C. Meriam Company, 1963.

10) Hery Lester Smith,  Educational Research, Principles and practices trích bởi Jose Arlas Adeva, Elements of Research and thesis Writing, Manila: University publishing Company, 1957.

11) Webster’s New World – College Dictinary, Wiley Dreamtech India, New Delhi, 2002

12) Carter V. Good, Methods of Research, NY: Appleton – Century – Crofts, 1951.

13) Ward C. Reeder,  How to Write A Thesis. Chú thích bởi Jose Arias Adeva,  Elements of Research and Thesis Writing, Manila: University Publishing Company, 1957.

 

( Tài liệu giảng dạy tại lớp Tăng I Khóa VII Học Viện Phật Giáo Việt Nam )

 

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s